Home » Các Loại Bệnh » Bệnh Về Mật » Ung Thư Túi Mật » Hậu quả của ung thư túi mật?

Hậu quả của ung thư túi mật?

Ung thư túi mật là bệnh lý ác tính hiếm gặp, chiếm khoảng 2% tổng số các trường hợp ung thư. Tuy nhiên, ung thư túi mật là bệnh lý ác tính phổ biến thứ nhì của gan mật, chỉ đứng sau ung thư tế bào gan. ung thu tui mat 2

Ung thư túi mật để lại hậu quả nghiêm trọng. (Ảnh minh họa)

90% ung thư túi mật nguyên phát là ung thư túi mật ngoài gan, trong đó 60-80% là ung thư ngã ba ống gan (khối u Klatskin), 25% là ung thư đoạn cuối ống mật chủ (bao gồm ung thư bóng Vater).

Nam giới và nữ giới có nguy cơ bị ung thư túi mật ngang nhau. Độ tuổi càng cao, nguy cơ bị ung thư túi mật càng lớn.

90% ung thư túi mật là ung thư ống tuyến (ductal adenocarcinoma).

Biểu hiện

Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của ung thư túi mật là tắc mật. Tình trạng tắc mật kéo dài cuối cùng dẫn đến suy gan, suy dinh dưỡng, suy thận, rối loạn đông máu, viêm đường mật và tử vong.

Triệu chứng

Các triệu chứng khác bao gồm: đau âm ỉ vùng hạ sườn phải, chán ăn, sụt cân…

Khi thăm khám lâm sàng, ngoài vàng da, gan to là dấu hiệu thường gặp nhất. Gan thường to mềm với bờ tù. Gan to, mật độ chắc, bờ sắc là biểu hiện của xơ gan do tắc mật, gặp trong ung thư khu trú ở một ống gan.

BN bị ung thư đoạn vùng quanh bóng Vater có thể có các biểu hiện sau:

– Thiếu máu (do chảy máu rỉ rã vào lòng tá tràng)

– Viêm tuỵ, tiêu phân mỡ (do tắc nghẽn ống tuỵ)

Sốt là triệu chứng hiếm khi xảy ra trong ung thư túi mật ngoài gan. Sốt, nếu có, thường xuất hiện sau các can thiệp đường mật chẩn đoán (PTC, ERCP).

Điều trị

– Mục đích là để giải quyết khối ung thư và hậu quả tắc nghẽn đường mật do nó gây ra.

– Nếu tình trạng bệnh nhân cho phép, việc phẫu thuật cắt bỏ khối u là phương pháp điều trị chọn lựa, có thể giúp chữa lành bệnh.

– Nếu khối u quá lớn, có thể cắt bỏ toàn bộ gan và ghép gan.

Tuy nhiên, khối ung thư túi mật thường đã lan rộng vào thời điểm được chẩn đoán.

+ Hóa trị hoặc xạ trị có thể được sử dụng sau phẫu thuật để giảm nguy cơ ung thư tái phát.

+ Tuy nhiên lợi ích của các liệu pháp này không rõ rệt lắm khi phẫu thuật đã lấy trọn được khối u, và sinh thiết ở vùng bờ cắt là âm tính.

+ Đa số các trường hợp ung thư đường mật đều đến khám ở giai đoạn quá chỉ định phẫu thuật, do đó bệnh nhân thường chỉ được điều trị bằng hóa trị liệu giảm nhẹ, có hoặc không kèm xạ trị.

+ Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, hóa trị đã được chứng minh là cải thiện chất lượng sống và kéo dài sống còn ở những bệnh nhân ung thư túi mật quá chỉ định phẫu thuật.

+ Các thuốc hóa trị thường được dùng để điều trị ung thư đường mật bao gồm 5-fluorouracil + leucovorin, gemcitabine dùng đơn độc, hay gemcitabine kết hợp với cisplatin, irinotecan, hoặc capecitabine.

+ Một thử nghiệm nhỏ cho thấy erlotinib, một chất ức chế tyrosine kinase có thể có ích đối với những bệnh nhân ung thư đường mật giai đoạn tiến triển.

+ Ở những bệnh nhân không thể cắt bỏ được khối u, nội soi điều trị kèm đặt giá đỡ (stent) có thể tạm thời giúp giảm tắc nghẽn trong đường mật và giảm vàng da.

+ Liệu pháp quang động (photodynamic) bằng chiếu tia Laser nội soi kết hợp với các thuốc hóa trị kích hoạt bằng ánh sáng (light-activated chemotherapy medications) là một chọn lựa cho những bệnh nhân tắc nghẽn đường mật. Liệu pháp quang động cho thấy có cải thiện về tỉ lệ sống còn và chất lượng sống.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *